Sóng Elliott là gì?

Sóng Elliott là gì?

78 Views

Elliott là gì hay là ai?

Tiếng Anh gọi là Elliott Wave, dịch ra Tiếng Việt là sóng Elliott. Chúng ta có hai danh từ, một là sóng (wave) hai là Elliott. Danh từ thứ hai chỉ người và đấy là tên của một người sinh ra ở hơn thế kỷ trước chúng ta, ông Ralph Nelson Elliott (1871-1948). Sóng, chúng ta đơn giản hiểu đó là các chuyển động của giá theo các mẫu hình cụ thể và có tính lặp lại theo thời gian.

Ralph Nelson Elliott (1871-1948),là một kế toán viên chuyên nghiệp, phát hiện ra các nguyên lý xã hội cơ bản và phát triển các công cụ phân tích cho thị trường chứng khoán trong những năm 1930. Ông đề xuất rằng giá cả thị trường diễn ra trong những hình mẫu cụ thể, mà ngày nay những người thực hành gọi là sóng Elliott, hoặc chỉ đơn giản là sóng. Elliott xuất bản lý thuyết của ông về hành vi thị trường trong cuốn sách The Wave Principle vào năm 1938, tổng kết nó trong một loạt các bài viết trong tạp chí Financial World năm 1939, và đề cập toàn diện nhất trong tác phẩm lớn cuối cùng của mình, Nature’s Laws: The Secret of the Universe vào năm 1946. Elliott nói rằng thị trường tiết lộ hướng đi của nó qua các mẫu hình/mô hình riêng biệt. Do vậy thế hệ sau dựa vào nguyên lý của Elliott và đã đặt tên cho các mẫu hình do Elliott phát hiện là một dạng sóng, thay vì là sóng biển hay sóng gió, thể hệ sau đã lấy tên ông là Elliott và đặt tên cho những mẫu hình đó là Sóng Elliott.

Căn bản về nguyên lý của Sóng Elliott

Sóng Elliott được phân chia làm hai dạng, dạng MotiveCorrective. Dịch ra Tiếng Việt Motive có nghĩa là động cơ, hành động có mục đích, chủ đích. Corrective có nghĩa là điều chỉnh, tính điều chỉnh. Hai từ Motive và Corrective trong tiếng Anh đều nằm ở cả hai dạng, dạng danh từ và dạng tính từ. Tính từ có chức năng miêu tả tính chất, tính năng của một việc, vật, hay sự vật v.v. Ở đây chúng ta sẽ hiểu cả hai từ này dưới dạng tính từ, điều đấy có nghĩa là Sóng Elliott hay các mẫu hình giá của thị trường có tính chất lúc ở dạng motive( có mục đích và động cơ) và lúc ở dạng corrective (rơi vào trạng thái, giai đoạn điều chỉnh). Theo đây chúng ta hiểu rằng khi thị trường chuyển động có mục đích và có chủ đích, có nghĩa thị trường đang trong giai đoạn có một hướng đi cụ thể, có thể là xu hướng lên và cũng có thể ở dạng xu hướng xuống. Tính lên xuống của thị trường cũng có lúc sẽ diễn ra tính điều chỉnh lại, khi sự lên xuống bị quá độ và điều này nó cũng phù hợp với các quy luật tự nhiên. Theo Elliott, khi thị trường đi dưới dạng Motive thì sẽ có mẫu hình 5 sóng với 5 dạng chuyển động của giá, trong đó 3 chuyển động lên có cùng hướng và 2 chuyển động cùng trong mẫu hình này nhưng ngược hướng; chuyển động cùng theo một hướng ở Sóng Motive có sóng 1,3 và 5, chuyển động ngược hướng trong mẫu hình này có sóng 2 và 4. Trong đấy sóng 1,3 và 5 thuộc dạng sóng hành động và 2 và 4 thuộc dạng sóng phản ứng.

Kết thúc mẫu hình 5 sóng motive nêu trên, thị trường đi vào giai đoạn điều chỉnh (corrective) và bao gồm ba chuyển động điều chỉnh ABC, trong đấy A là sóng hành động của mẫu hình điều chỉnh này và B là phản ứng, C còn lại cũng là dạng sóng hành động như A. Điều chỉnh ABC diễn ra khi thị trường sau một chu kỳ lên/xuống có động cơ cũng là tính tất yếu của sự phát triển bền vững.

Với mẫu hình 5 sóng có động cơ và mẫu hình 3 sóng theo điều chỉnh, chúng ta thấy mô hình này kết thúc với 8 sóng tổng cộng, hay nói theo cách khác là có 8 chuyển động tất cả, trong đấy có 4 chuyển động giá cùng hướng và 4 chuyển động giá ngược hướng. Thoạt nghe ta thấy các chuyển động lên và xuống cùng hướng và ngược hướng bằng nhau về số lượng có vẻ cho ta hình dung thành thị trường phát triển ngang; dĩ nhiên thị trường không phát triển ngang được vì tỉ lệ độ dài và ngắn của mỗi chuyển động lại không có nhất quán về tỉ lệ nhất định và thời gian để đạt được mỗi tỉ lệ đấy mất bao lâu, vì thị trường chuyển động theo hành vi có tính lặp lại của đám đông( đối tượng tham gia thị trường) ở mỗi thời điểm lại khác nhau do bối cảnh và ngữ cảnh kinh tế chính trị tại thời điểm đấy. Dưới đây là

Hình ảnh minh hoạ cho mô hình 8 sóng đơn giản:

 

Như theo hình ảnh minh hoạ trên ta thấy mô hình căn bản cho 8 sóng, bao gồm 5 sóng của mô hình Motive và 3 sóng của mô hình Corrective kết thúc một chu kỳ của thị trường, chu kỳ ở đấy không có tính ấn định chính xác bao lâu, nhưng được ấn định qua mẫu hình chuyển động có động cơ và mẫu hình điều chỉnh tiếp sau đấy là dạng điều chỉnh lại cho mẫu hình có động cơ trước đấy diễn ra để cân bằng lại lại thị trường sau một giai đoạn quá độ, qua đấy khái niệm chu kỳ được đưa vào để diễn nghĩa cho mô hình này.

Cấp độ (Degrees) của Sóng Elliott

Elliott cũng như những người phát triển trường phái này sau đấy như Hamilton, Prechter không ai đề cập đến khái niệm như ở Tiếng Việt một số người vẫn áp dụng là "sóng trong sóng". Không có "sóng trong sóng" mà Elliott chia sóng thành các cấp độ phát triển khác nhau, và trong một cấp độ lớn, các cấp độ nhỏ được nằm trong đấy và phát triển theo cùng một quy tắc. Tuy nhiên, tính quy tắc ở cấp độc càng lớn thì càng có tính chính xác bấy nhiêu, do thị trường trong ngắn hạn có thể có những sự làm giá, sự dao động do bị các yếu tố không có thật làm cho biến dạng, tuy nhiên nó lại không có tính dài hạn do sự làm giá mang tính lái giá theo động cơ riêng nó bị giới hạn bởi thời gian. Về cấp độ thì Elliott chia thành 15 cấp độ (degrees) khác nhau, nhưng dùng và áp dụng phổ thông thì chỉ 9 cấp độ do nó phù hợp về yếu tố thời gian. 9 cấp độ được sử dụng phổ thông trong phân tích kỹ thuật ngày nay là:

  1. Grand Super-cycle
  2. Super-cycle
  3. Cycle
  4. Primary
  5. Intermediate
  6. Minor
  7. Minute
  8. Minuette
  9. Subminuette

Dưới đây là Bảng mô tả tổng quan về cấp độ và nhãn dán cho mỗi cấp độ:

 

Mỗi cấp độ sẽ tiêu thụ bao nhiêu thời gian không có phương pháp tính cụ thể, thời gian đặt cho nó chỉ dựa vào quan sát và ước chừng cho tới nay. Nếu xét về mặt nghĩa của từ thì ta thấy Millennium có gốc từ của từ  mille theo Tiếng Latin có nghĩa là 1000 năm. Dựa vào tiêu chí đấy, thời gian được tính ước lượng cho mỗi cấp độ được được đặt ra với các ngưỡng khoang khoảng như sau:

  1. Grand Super-cycle = Nhiều thế kỷ
  2. Super-cycle = 40-70 năm
  3. Cycle = Một đến nhiều năm
  4. Primary = Nhiều tháng đến nhiều năm
  5. Intermediate = Nhiều tuần đến nhiều tháng
  6. Minor = Nhiều tuần
  7. Minute = Nhiều ngày
  8. Minuette = Nhiều giờ
  9. Subminuette = Nhiều phút  

 

Nền tảng phân tích Sóng Elliott

Sóng Elliott được xây dựng phân tích trên bộ quy tắc (Rules) và các chỉ dẫn (Guidelines) cùng tỉ lệ giữa các sóng liên quan theo tỉ lệ Fibonacci của mình. Bộ quy tắc và các chỉ dẫn cho sóng Elliott được xây dựng và có cấu kết chặt chẽ cũng như rất logic trong tư duy, do vậy người phân tích kỹ thuật theo trường phái Sóng Elliott cần học kỹ năng cũng như phát triển khả năng tư duy theo phương pháp phân tích loại bỏ; phân tích loại bỏ ở đây theo Elliott là người phân tích sẽ không thể tìm thấy sự thật ở thị trường này, có nghĩa là thị trường nó phải thế này hay nó phải thế kia, vì cái mà nhà phân tích nhìn thấy, không hẳn là cái mà thị trường cũng thấy thế, do thị trường là một hợp phần của nhiều phần tử đối tượng khác nhau với các quan điểm trái ngược nên phương pháp loại bỏ ở đây được đưa vào áp dụng dựa trên bộ quy tắc và chỉ dẫn để loại bỏ đi những gì không có thể và những gì có lẽ sẽ là sự thật của thị trường. Thoạt nghe ta thấy trừu tượng, nhưng nó thực ra là một thực tế. Người tham gia thị trường tuy luôn có quan điểm khác nhau về giá, về xu hướng về giá trị, nhưng những người tham giá thị trường vẫn chịu sự chi phối của quy luật tự nhiên, và hành vi có tính lặp lại sẽ để lại các mẫu hình mà qua đấy nó sẽ đưa lại cho nhà phân tích kỹ thuật theo sóng Elliott thông tin về giá trị, về xu hướng, về thời gian xu hướng tiếp tục, về mức độ độ sâu khi thị trường đi vào điều chỉnh hay điều chỉnh tới đâu.

 

Ở bài sau chúng ta sẽ cùng thảo luận về các dạng của sóng Motive và Corrective.

Chi tiết thêm về Sóng Elliott các bạn theo link dưới đây phần mục Khoá học Sóng Elliott của chúng tôi:

Tham gia ngay khoá học Sóng Elliott